Bát Nhã Tâm Kinh và Ki-Aikido

Tôi có nghe láng cháng thầy dạy Ki-Aikido của tôi nói về việc muốn hiểu Ki như thế nào cho đúng. Thầy nói rằng:

Thầy XYZ (tôi ko nhớ tên) nói rằng nếu thay chữ “Không” trong Bát Nhã Tâm kinh bằng chữ “Ki”. Sẽ hiểu Ki là gì.

Nghe điều này cách đây gần một năm, tôi có cảm giác là hơi “gồng mình” khi cố gắng nâng một môn võ đạo như Ki-Aikido lên tầm của một trong các bản kinh quan trọng nhất của Phật giáo là Bát Nhã Tâm Kinh.

Nhưng kể từ thời điểm “hơi nhác thấy phía xa xa” bóng hình của Nhất Thể , rồi trong buổi Seminar Ki-Aikido năm ngoái với thầy Tuduki, cộng thêm cuộc trà dư tửu hậu với các thầy cô, các sư huynh như Jason N. hay Jasmine TH. sau buổi seminar đó, tôi thấy rằng con đường những người luyện tập Ki-Aikido đang đi cũng “vô tình” cùng hướng đi của Phật giáo. Ôm một mối nghi tình về Nhất Thể đó, tôi một lần nữa lại đưa mình quay trở về con số 0, bên ngoài dojo thì thực hành đạo Phật, bên trong dojo thì trở thành miếng bọt biển để thấm mút tất cả những gì mà sensei và senpai chỉ dẫn (thực ra, tôi đã bắt đầu không tách việc này ra làm 2. Tôi coi việc tập Ki-Aikido trên dojo cũng là đang thực tập Lục độ Ba La Mật). Lâu dần, tôi có những kiến giải riêng của mình về Ki, để giúp cho con đường đi của mình rõ ràng hơn.

* Lưu ý: Đây là những kiến giải – cái hiểu của người Viết trên bề mặt văn tự. Có 3 cấp độ để đạt được trạng thái Ki – cảm nhận Nhất Thể thực sự: (1) Hiểu trên văn tự; (2) Thực hành – quán chiếu; (3) Tự mình thực chứng. Người viết bài này đang trong giai đoạn (2), có nghĩa trong lúc thực hành thì cảm nhận được cái Nhất Thể khi tỏ, khi mờ. Còn nếu đến giai đoạn (3) thực chứng rồi thì không còn mối nghi nào nữa, không còn khi tỏ khi mờ nữa, mà cái “Thấy” đó sẽ ở lại và tồn tại mãi mãi về sau. 

Đầu tiên, cho những ai chưa từng nghe hay tụng đọc Bát Nhã Tâm Kinh, thì tôi sẽ trích dẫn lại ở đây.

1- Bát Nhã Tâm Kinh

Bồ tát Quán Tự Tại khi thực hành Bát Nhã Ba La Mật thâm sâu, soi thấy năm uẩn đều không, do đó vượt thoát mọi khổ đau ách nạn.

Này Xá Lợi Phất, sắc chẳng khác nào không, không chẳng khác nào sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế.

Này Xá Lợi Tử, các pháp đều là những hiểu hiện của tính không này. Không sinh, không diệt; không nhơ, không sạch; không thêm, không bớt.

Vậy nên trong cái không đó, không có sắc, không thọ tưởng hành thức.

Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Không có nhãn giới, không có ý thức giới. Không có vô minh, không có hết vô minh. Không già chết, không có không già chết.

Không có khổ, tập, diệt đạo.

Không có trí, cũng không có chứng đắc.

Do không có chứng đắc, nên Bồ tát ý theo trí huệ Ba La Mật này, tâm không còn chướng ngại. Vì tâm không còn chướng ngại, nên không còn sợ hãi, xa lìa khỏi mọi điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết Bàn.

Chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai cũng y theo trí huệ Ba La Mật này, đạt được giác ngộ vô thượng, chánh đẳng chánh giác.

Cho nên phải biết rằng Bát Nhã Ba La Mật Đa là đại thần chú, là minh chú, là vô thượng thần chú, không gì sánh được, luôn trừ các khổ đau, chân thật không hư dối.

Bởi vậy, nên tuyên thuyết thần chú Bát Nhã Ba La Mật. Tuyên thuyết thần chú này như sau:

Gate, gate, paragate, parasamgate, bodhi svaha!

2- Chữ “Không” của Bát Nhã Tâm Kinh

Tôi không muốn đi quá sâu vào cắt nghĩa kinh này. Vì tôi chỉ là người tu tập Phật giáo chứ không phải là giáo thọ nên không dám lạm bàn kinh pháp. Bạn có thể tìm rất nhiều bài giảng sâu sắc về Bát Nhã Tâm Kinh của các thiền sư như Duy Lực, Thích Nhất Hạnh, hay các hòa thượng Thích Thanh Từ, Thích Phước Tiến, hay các sách vở nước ngoài…

Bát Nhã Tâm Kinh được các Phật tử trì tụng hàng ngày. Nhưng nếu không thực sự hiểu được chữ “Không” của Bát Nhã, thì trì tụng hàng ngàn lần cũng như không. Ở đây, tôi chỉ xin mạo muội cắt nghĩa chữ “Không” một cách nông nhất cho những người thực hành sơ cơ có thể hiểu được:

“Không” ở đây không nằm trong cặp đối nghịch giữa “Không” và “Có”. Trong kinh nói rằng: “Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. ” không có nghĩa là mắt, tai, mũi, lưỡi không tồn tại thật. (Nếu học trò trả lời vậy, có thể vị thầy sẽ với tay qua véo cho anh ta chảy cả máu mũi ra, để anh ta hiểu mũi của anh ta tồn tại thật đến nhường nào).

Vậy phải hiểu chữ “Không” ở đây như thế nào?

Có 2 hướng tiếp cận chữ “Không” này:

Hướng 1 – “Không” ở đây nghĩa là không có tự tính riêng biệt, biệt lập.

Ví dụ như nhìn một cái tách uống trà bằng sứ. Ta gọi nó là “tách trà”. Nhưng nhìn sâu vào bản chất của tách trà, ta sẽ thấy nó được tạo nên từ những-yếu-tố-không-phải-là-tách-trà: đó là nguyên liệu đất sét, là nước, là nhiệt nung, là người thợ làm gốm, là không khí, lương thực, cha mẹ sinh ra người làm gốm. Nếu đem trả lại đất sét về cho đất, nước về cho sông suối, nhiệt về cho lò nung, và trả lại người thợ làm gốm về cho cha mẹ (cha mẹ ko sinh ra người thợ đó nữa), thì “tách trà” đó cũng không tồn tại.

Bởi vậy, thiền sư Thích Nhất Hạnh có khái niệm inter-being (tương tức) để đánh phá lại khái niệm being (có, là) của người thường.

Với cách nhìn của người thường, tách trà là “tách trà”, nó có đẹp, xấu, quý, thường. Có tách trà đắt, có tách trà rẻ mạt. Còn với con mắt của người tu thiền có thể nhìn tách trà thành ra “không tách trà”. Họ có thể gọi nó là cục-đất-sét-được-nhào-nặn-và-nung-nóng-thành-một-vật-để-đựng-nước cũng được. Bởi vậy, họ thấy tách trà nào cũng quý như nhau, và cũng chẳng quý như nhau. Họ không bám chấp vào nó, và họ được giải thoát khỏi sự bám víu vào một tách trà quý.

Tu tập thâm sâu hơn, thông qua thực hành Lục Độ Ba La Mật:

  • Bố thí
  • Trì giới
  • Nhẫn nhục
  • Tinh tấn
  • Thiền định
  • Trí huệ

Họ dần dần thực chứng và nhận biết được ngũ uẩn của họ đều thể hiện tính “Không” này. Ngũ uẩn ở đây được hiểu là 5 yếu tố tạo thành sự sống của một con người, bao gồm: (1) Sắc uẩn – yếu tố vật lý; (2) Thọ uẩn – cảm giác; (3) Tưởng uẩn – tri giác; (4) Hành uẩn – yếu tố tâm lý có thể tạo động lực dẫn tới hành động; (5) Thức uẩn – khả năng nhận biết, ý thức. Ngũ uẩn đôi khi còn được gọi là ngũ ấm (ấm nghĩa là ngăn che, chướng ngại. Ý muốn nói 5 yếu tố này đồng thời cũng là 5 trở ngại ngăn che người ta nhìn thấy chân tánh của chính mình).

Và họ nhận thấy vạn pháp trong thế gian này cũng là “Không” như vậy. Tất cả sự vật, hiện tượng, cả thân và tâm, con người cũng là giả tạm, là tương tức. Sắc (yếu tố vật lý) là không. Không có gì sinh ra, và vì không sinh nên không có diệt. Không có nhơ, nên không có sạch. Không có tăng, nên không có giảm. Không có vô minh, nên không có đoạn trừ vô minh. Không có khổ, tập, diệt đạo. Không có gì để chứng đắc. Và người tu tập vượt thoát khỏi mọi bám chấp đó, đồng nghĩa với vượt thoát mọi khổ đau ách nạn.

Nói một cách ngắn gọn, do nhìn thấy sự tương tức (inter-being) của vạn vật, và của chính mình, một người sẽ nhận thấy cái gọi là bản ngã của mình không có thực. Thực ra anh ta được tạo nên do có sự giao hợp giữa cha và mẹ. Cái sinh đó của anh ta là một sự kết hợp giữa tinh trùng của cha và trứng của mẹ, anh ta là một sự tiếp nối, chứ không hề có sự sinh ra. Thậm chí, sự kết hợp giữa tinh cha và trứng mẹ đó để tạo nên anh ta, có khi chỉ là một “tai nạn” khi hai người kia không sử dụng biện pháp tránh thai khi giao hợp. Nhưng khi anh ta được “ra đời”, được đặt cho một cái tên, được dưỡng dục, anh ta lớn lên và quay lại đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Tại sao ta lại được sinh ra trên cõi đời này? Mục đích, sứ mệnh của ta trên trái đất này là gì?” – và nếu đi lần tìm đến cùng cực, anh ta sẽ vỡ òa ra rằng mục đích, sứ mệnh của anh trên đời này cũng là “không”. Kể từ thời điểm đó, anh sẽ sống một cuộc đời chân thực của mình.

Hướng 2 – “Không” ở đây nghĩa là nhìn mọi thứ như nó đang là

Hay nói cách khác, là người tu tập chỉ quan sát mọi thứ, và không cố “dán nhãn”, đặt tên hay chia chẻ mọi thứ thành những khái niệm, những thái cực “có” vs “không”, “đẹp” vs “xấu”, “thiện” vs “ác”, “cao” vs “thấp”, cái này gọi là “mũi”, cái kia gọi là “mắt”, “tai”, “lưỡi”, đây là dân tộc Việt Nam, còn kia là người Mỹ; đây là con tôi, kia là con anh; đây là tôi, kia là anh…

Lấy ví dụ thế này:

Một người đàn ông đang ngồi uống cafe, nhìn ra đường. Một cô gái ăn mặc sexy đi ngang qua anh ta, thông thường người đàn ông sẽ rơi vào một trong hai trạng thái sau:

  • Trạng thái “Có” cô gái: người đàn ông nhìn cô gái đẹp, khởi lên vọng niệm. Thậm chí cô ta đi mất hút rồi, vẫn ngồi đó và tưởng tượng abc/xyz về cô gái. Vì vậy, cô gái đó là “có”, và người đàn ông bám chấp vào cô gái.
  • Trạng thái “Không có” cô gái: người đàn ông đang ngồi suy tư về công việc làm ăn của anh ta. Cô gái đi ngang qua trước mặt, nhưng anh ta không biết điều đó. Chỉ đến khi người bạn ngồi cạnh huých vai: “Mày thấy con bé vừa rồi thế nào?”. Anh ta mới sực tỉnh quay trở lại hiện tại, rồi hỏi: “Cái gì cơ? Con bé nào? Tao xin lỗi, lúc nãy tao bận tập trung nên không để ý con bé nào vừa qua.” Trạng thái này là “Không có” cô gái.

Cả hai trạng thái trên, đều được gọi là “Thất niệm”.

Còn nếu người đàn ông khi nhìn thấy cô gái, thốt lên (trong đầu): “Ồ! Một cô gái đẹp”. Sau đó cô gái đi qua, anh ta tiếp tục theo dõi những diễn biến khác trước mắt và bỏ quên cô gái đó đi, thì là trạng thái “Không” thực sự của Bát Nhã. Cô gái đó là “Không”. Thậm chí, từ “đẹp” vẫn còn bị vướng mắc vào trạng thái (1) – “Có” ở bên trên. Chuẩn nhất, người đàn ông đó chỉ nên nhận biết: “Một cô gái”. Thậm chí, với những người thiền đủ sâu, việc nhận biết “một cô gái” là còn quá nhiều. Anh ta sẽ ngắm nhìn cô gái đó, và trong đầu không gợn lên một câu nói nào.

Như vậy, trong vị thế người quan sát mọi thứ như nó đang là mà ko dán nhãn, ko đuổi theo đối tượng, ko nổi lên vọng niệm, người đàn ông đó có thể cảm nhận sự bình an và thâu trọn những gì tuyệt vời nhất trong một buổi chiều uống cafe.

Thực ra, quán chiếu theo hướng nào, thì nó cũng đều đi đến chữ “Không” trong Bát Nhã đó. Nó đập vỡ cái nhìn nhị nguyên, chia cắt mọi thứ ra và tạo nên hàng triệu thứ rối rắm trong cuộc sống này. Nhị nguyên nó cũng có chỗ dụng của nó. Nếu áp dụng nhị nguyên để tổ chức cuộc sống này – đó là biết dùng. Ví dụ như một gia đình có 2 đứa con, vì đứa A là con gái, nên không thể cho nó tắm cùng đứa B là con trai, vì sẽ sinh ra va chạm về tâm lý và thể xác. Nhưng nếu bám vào nhị nguyên, cho rằng đứa B sẽ mang họ nối dõi tông đường nhà mình, giá của nó quý hơn đứa A là con gái – sau này trở thành dâu nhà người khác, thì cha mẹ sẽ bị hút vào nhị nguyên, bị trói buộc, mất tự do cho mình và cho cả hai đứa con.

Khi thực tập được cái nhìn “không dán nhãn” đó rồi (vì thực sự chẳng có cái Nhãn nào là thật cả, tất cả chỉ do con người định ra một cách giả tạm, nhưng ta lại bám vào nó là thật), thì ta nhìn thấy tính “Không” thực sự của Bát Nhã.

Không tách trà, không có không tách trà (cục đất sét)

Không con trai, không có không con trai (con gái)

Không có thấp, nên không có cao

Không có của ta, không có không của ta (của người khác)

Bóc hết tất cả các nhãn

Vì bóc hết các nhãn, nên không còn cái nào để băn khoăn

Không còn băn khoăn, im bặt các khái niệm

Im bặt các khái niệm, tâm trí rỗng không

Tự do, vượt thoát tất cả khổ đau ách nạn.

Nếu con khóc, thì vội lao đến dỗ dành mà không suy nghĩ

Nếu máu chảy, vội lấy băng gạc băng lại, mà không bực tức vì bị thương

Việc gì cần làm, thì làm ngay chỗ đó.

Với cá nhân tôi, hai hướng tiếp cận đó đều có thể đi đến chữ “Không” của Bát Nhã. Chỉ là ai hợp cái nào thì dùng cách nấy. Hướng 1 hợp cho những người ưa tư duy, quán tưởng. Ví dụ trong bài thực hành ăn soup ở Làng Mai, các môn sinh sẽ được thực tập lặng một phút để quán được bát soup này từ đâu đến, từ bột đao, ngô, khoai tây, hành, từ người nông dân, từ nắng, mưa, khói, lửa làm nên bát soup này. Đó là thực tập nhìn thấy tính “không” của bát soup, trân trọng nó và ăn nó với sự biết ơn. Đó là hướng 1.

Còn tôi, tôi có thể hiểu được những điều đó, bằng mắt thường (không phải con mắt Bát Nhã), tôi có thể nhìn thấy bột đao, ngô, khoai tây, hành trong báp soup, mà không thấy người nông dân, nắng mưa, lò củi ở đâu cả. Tôi cảm thấy đau đầu khi quán tưởng, tôi thấy đầu tôi rỗng tuếch, cầm báp soup lên và húp. Ngon thì nuốt vào mà thậm chí trong đầu không khởi lên một ý niệm “Ôi! Ngon quá!”, bỗng thấy lợn gợn trong mồm có một cọng cỏ thì nhè ra, không khởi lên một ý niệm “Ối! Có một cọng cỏ. May mà mình chưa nuốt phải? Tại sao có cỏ trong này nhỉ?”. Đó cũng là cách thực hành nhìn thấy tính “không” của bát soup, theo hướng 2.

3- “Không” trong Bát Nhã và “Ki” trong Ki-aikido

Có lẽ người nào tập Ki-aikido, đọc đến đây cũng lờ mờ nhận ra sự liên hệ giữa “Không” và “Nhất Thể”.

Hay chiểu theo câu quote ở trên:

Thầy XYZ nói rằng nếu thay chữ “Không” trong Bát Nhã Tâm kinh bằng chữ “Ki”. Sẽ hiểu Ki là gì.

Theo cái hiểu của tôi, thì không hẳn là thay thế chữ “Ki” một cách cơ học và chữ “Không” trong Bát Nhã Tâm Kinh, vì nó sẽ thành ra những câu từ vô nghĩa. Nên tôi lắp chữ “Ki” này như sau:

Học viên khi thực tập Ki-Aikido một cách thâm sâu, soi thấy năm uẩn đều là Ki, do đó vượt thoát mọi cầm, nã, bám, giữ. 

Này bạn tập, sắc chẳng khác nào ki, ki chẳng khác nào sắc, sắc chính là ki, ki chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như vậy.

Này bạn tập, vạn pháp trên thế gian này đều hiển lộ Ki. 

Ki có trong nage, ki có trong uke

Ki có trong những vật tri giác, ki có trong những vật vô tri vô giác

Ki có trong bạn bè, ki có trong kẻ thù

Ki có trong các đòn thế, ki có trong những hoạt động không phải đòn thế

Ki có trong Ki-aikido, ki có trong những cái không phải Ki-aikido

Vì vạn pháp trên thế gian này đều hiển lộ ki, nên tâm không còn ngăn ngại

Không còn ngăn ngại, nên không sợ hãi,

Vượt thoát khỏi mọi sự cầm, nã, bám, giữ. 

Đạt được sự ung dung, tự tại cuối cùng. 

Tại sao có thể nói câu “Vạn pháp trên thế gian này đều hiển lộ ki”? Trong cuốn “Letting go: Talk on Aikido” của Curtis sensei, có cắt nghĩa về chữ Ki:

Ki-kanji

Chữ “Ki” được cấu tạo bởi 2 kỹ tự chính: phần phía trên là “mây và mưa” ở trên trời, hoặc có cùng nghĩa thứ hai là “khói hơi” bốc lên. Phần chính giữa, là “bông gạo”, hay còn có nghĩa thứ hai là “cơm được nấu”. Nếu hiểu theo nghĩa 1, thì Ki là mây mưa rơi xuống, bông gạo trổ. Hiểu theo nghĩa 2, thì hạt cơm được nấu, nở ra và hơi khói bốc lên. Hiểu theo hướng nào, thì nó cũng ám chỉ sự sinh sôi, nảy nở, phát triển 4 phương, 8 hướng. Hay có thể liên tưởng nó đến vạn pháp trong nhân gian này.

Vậy thì, nó có sự tương đồng nào đó giữa “Không” của Bát Nhã và “Ki”. Chữ “Không” của Bát Nhã xóa bỏ hoàn toàn ranh giới giả tạm của vạn pháp. Còn chữ “Ki” thì ám chỉ rằng vạn pháp đều có Ki, đều có thể kết nối, và vì vậy ranh giới giữa vạn pháp cũng có thể được xóa bỏ. Hay nói cách khác, khi ranh giới được xóa bỏ, khắp đất trời, vũ trụ này chỉ hiển lộ một thứ duy nhất, gọi là “Nhất Thể”.

Vậy cái việc kết nối với “Ki” của vạn pháp giúp ích gì trong cuộc sống này?

Theo thiển ý của tôi, điều quan trọng nhất vẫn là lìa xa được lối suy nghĩ nhị nguyên, chia chẻ để đối phó với cuộc đời. Khi có nhị nguyên khởi lên, thì có phân chia cao thấp, tốt xấu, bạn thù. Và con người bám chấp vào đó, tạo một loạt các tạo tác mang lại khổ đau cho mình và cho người khác.

Hãy nghĩ về sự tranh đấu được tạo ra từ đâu?

Từ cái việc bạn đặt mình trong nấc thang so sánh với một ai đó. Địa vị, thu nhập, của cải, con cái của mình, không bằng địa vị, thu nhập, của cải, con cái của người khác.

Đối với tôi, sự cạnh tranh với một ai đó hữu hình không hẳn là sự cạnh tranh lành mạnh. Ví dụ, hai vợ chồng dành dụm mãi mới mua được căn hộ nhỏ 2 phòng ngủ. Nhìn sang nhà anh bạn thấy đã mua căn hộ hạng sang 3 phòng ngủ rộng hơn 100m2, tôi sinh lòng đố kị. Hay hàng ngày mình vẫn mặc áo mưa, lái xe máy đi làm. Trong khi nhìn sang bạn bè đồng trang lứa thì họ đã sắm ô tô, đưa vợ tới cơ quan, con tới trường, nắng không tới mặt, mưa chẳng tới đầu, tôi sinh lòng đố kị.

Với tôi, sự cạnh tranh lành mạnh là tự mình vươn lên khỏi chính mình hôm nay, mà không nhìn vào người khác. Không có giới hạn nào đặt ra, không có nấc thang nào, không có đấu tranh với ai, và không có kẻ thù.

Nó khá giống câu chuyện cạnh tranh giữa hai hãng sữa Milo và Ovantine. Thông điệp của Milo là “Con trở thành nhà vô địch”, thông điệp của Ovantine là “Con không cần là nhà vô địch, con hạnh phúc là đủ”.

Nếu không có sự cạnh tranh bệnh hoạn với người khác đó, thì bạn sẽ mở cái Ki của mình ra để kết nối với mọi người xung quanh, cả với những người hơn mình, kém mình. Và nhìn quanh chẳng có ai thực sự là kẻ thù của bạn cả.

Tất nhiên, có những tầng lớp sâu xa hơn khi dùng “Ki” để lý giải những mâu thuẫn về giai cấp, quốc gia, hay là:

Mình thì chan hòa với mọi người. Nhưng cứ có thằng nó thù ghét và cứ đòi đâm lén sau lưng mình thì làm thế nào? Đừng nói là tôi phải biến họ thành bạn mình, trở thành một thế giới đại đồng, là Nhất Thể, nhà Đạo đức giả ạ.

Với trường hợp đó, chúng ta phải vận dụng tính “Không” của Bát Nhã hay “Ki” của Ki-aikido thế nào? Câu trả lời sẽ nằm ở phần ngay dưới đây

4- Bàn về việc luyện tập

Như đã nói ở đầu bài, có 3 giai đoạn một người luyện tập phải kinh qua:

  • Giai đoạn 1: Hiểu trên văn tự, chữ nghĩa, ý tứ.
  • Giai đoạn 2: Thực hành, quán chiếu sâu sắc
  • Giai đoạn 3: Thực chứng, đạt ngộ.

Bản thân trong Bát Nhã Tâm Kinh, ngài Bồ tát Quán Tự Tại cũng phải sau khi thực hành Bát Nhã Ba La Mật thâm sâu, mới thực chứng được tính “Không”, và vượt thoát khỏi vòng sinh tử. Bởi vậy, cá nhân tôi phải rất khắt khe và dè dặt khi nói về việc mình có cảm nhận được Nhất Thể hay là không?

Thực sự, thì trong một vài thời điểm, trong một tích tắc nhỏ, tôi có cảm nhận được Nhất Thể. Nhưng nó vụt qua mất tăm hơi. Như việc mình được giao nhiệm vụ lên đường đi tìm một con trâu bị mất. Mình chưa bắt được nó, nhưng mình đã nhang nhác thấy bóng của nó, điều đó khiến cho mình tinh tấn và có niềm tin hơn về việc “con trâu đó có thật”, và “mình sẽ bắt được nó”.

Do đó, tôi không tin rằng mình (và nhiều bạn đồng tu) thực sự đã đạt được một trình độ đáng kể nào đó trên con đường luyện tập. Nó chỉ như một thứ giả hiệu, một cái hiểu trên văn tự. Và nếu người luyện tập bằng lòng và thỏa mãn với cái đó rồi, thì họ sẽ không thực hành Ba La Mật, (hay tinh tấn thực hành Ki-aikido nữa). Nếu vậy, chính cái hiểu tạm bợ của mình sẽ trở thành một thứ “sở tri chướng” (Chướng ngại của việc hiểu biết) để ngăn trở mình thực chứng được cái đạo thực sự.

Nó không khác gì một người nói rằng “Tôi đã thực chứng được Bát Nhã” trong khi anh ta vẫn còn lăn tăn về việc người đồng nghiệp được đề bạt lên làm trưởng phòng, chứ không phải mình. Nó cũng không khác gì một người nói rằng “Tôi đang cảm nhận Nhất Thể và chuyển động cùng bạn tập”, trong khi bạn tập hơi thử thách một tý thì mình lên gân, lên cốt hết cả.

Đó cũng là cái bẫy rất tinh tế mà người luyện tập phải tránh được. Ai bằng lòng với sự dễ dãi đó thì đó là chuyện của họ, còn với tôi, tu luyện thì không được bằng lòng dễ dãi.

Có ba điều cốt yếu trong việc thực tập:

  • Điều 1: Luôn trung thực với bản thân mình
  • Điều 2: Có niềm tin vào điều mình đang làm
  • Điều 3: Hãy vui vẻ với quá trình và đừng hấp tấp, nóng vội (Vì khởi lên một niệm mong cầu, là trở ngại)

Và do đó, câu hỏi ở trên, nó vẫn còn được bỏ ngỏ ở đây. Nếu bạn tinh tấn luyện tập, chính bản thân bạn một ngày nào đó sẽ trả lời được câu hỏi đó. Và đó cũng là ngày bạn sẽ vỡ bùng ra tất cả.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s